Bài thơ về năm sáng tác các tác phẩm lớp 9

Thảo luận trong 'Thư Viện VOZ' bắt đầu bởi Wall-E, 13 Tháng sáu 2024.

  1. Wall-E

    Wall-E Senior Member

    Bài viết:
    Tìm chủ đề
    410
    Đây là bài thơ được sáng tác và chia sẻ bởi thầy giáo Lương Hải Đăng, giáo viên khoa Ngữ Văn của trường Spring Hill - ngôi trường song ngữ liên cấp nằm cách Hà Nội 40km. Chia sẻ trên trang cá nhân của mình, thầy Hải Đăng viết: "Sau một thời gian ngâm cứu, với mong muốn giúp các con lớp 9 dễ dàng ghi nhớ các mốc thời gian, tên gọi, nội dung,...mình viết ra đôi dòng lục bát đơn sơ giản dị này. Thân tặng các học sinh của thầy, hy vọng món quà nhỏ này sẽ giúp các con có hứng thú hơn, dễ dàng khám phá chiều sâu rộng của văn chương."

    Ngay sau khi đăng tải, đoạn thơ độc đáo này nhanh chóng nhận được sự chú ý từ đông đảo cư dân mạng, đa phần đều tỏ ra vô cùng thích thú và ngưỡng mộ trước sự tâm huyết của thầy giáo.

    [​IMG]

    Bài "Làng" tác giả Kim Lân

    Viết năm 48 (1948), gian truân chuyên bão bùng

    "Đồng chí" những vị anh hùng

    Chính Hữu - 48 (1948), sống cùng chúng ta

    "Đoàn thuyền đánh cá" ra khơi

    58 (1958) - Huy Cận, ngợi ca sức người

    63 (1963) "Bếp lửa" sáng ngời

    Bà của Bằng Việt, mặt trời trong tim

    66 (1966) Quang Sáng đi tìm

    Lược ngà báu vật, trái tim cha hiền

    Xe không có kính triền miên

    69 (1969) Tiến Duật tới miền lửa bom

    Sa Pa lặng lẽ mọi chòm

    Thành Long Nghệ sĩ chấm còm 70 (1970)

    Những ngôi sao sáng giữa trời

    Một chín bảy mốt (1971), tuyệt vời Minh Khuê

    Viễn Phương 76 (1976) đi về

    Thăm nơi bác "ở", bộn bề nhớ thương

    77 (1977) Hữu Thỉnh vấn vương

    Sang thu cảnh sắc muôn phương xoay vần

    "Ánh trăng" soi tỏ nhân trần

    Nguyễn Duy 78 (1978) muôn phần nghĩ suy

    80 (1980) Thanh Hải sống vì

    Cuộc đời một đóa tường vi dâng đời

    Y Phương cảm xúc đầy vơi

    "Nói với con" đó những lời thiết tha

    Con là nguồn sống của cha

    80 (1980) năm ấy, dễ mà đừng quên


    Bài thơ về hoàn cảnh sáng tác văn 9


    Mở đầu đồng chí bài thơ

    Vào năm bốn tám thơ lời tự do

    Đoàn thuyền đánh cá khỏi lo

    Một chín năm tám, con cò sáu hai

    Đội xe sáu chín rất tài

    Băng băng ra trận nào ai sợ gì

    Khúc ru bảy mốt nhớ ghi

    Ánh trăng bảy tám ta thì nhớ ngay

    Mùa xuân nho nhỏ còn đây

    Tám mươi năm chẵn sáng ngày mùa đông

    Viếng lăng bác nhớ vô ngần

    Bảy mươi sáu đó ân cần nhớ ôn

    Sang thu cùng nói với con

    Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền nam

    Cuối cùng bếp lửa bùng tan

    Cháy tình bà cháu nhớ ngàn sáu ba


    Bài ca tu từ



    [​IMG]

    Này là biện pháp tu từ

    Nằm lòng các phép thực hành nhớ lâu

    Chức năng, biểu hiện đừng quên

    Lần lượt các bước thế là điểm cao

    So sánh nằm ở từ như

    Bằng hay hơn, kém đều để gợi ra

    Sự vật, sự việc quanh ta

    Không hề trừu tượng mà cụ thể thấy ngay

    Nhân hóa ví vật như người

    Sống động, gần gũi như là tình thân

    Ẩn dụ hoán dụ rất gần

    Cùng hàm súc đấy nhưng mà khác nhau

    Ẩn dụ từ sự giống nhau

    Dùng "như" khôi phục A, B biết liền

    Hoán dụ thì khác đó nha

    A gần B đó không hề giống nhau

    Điệp ngữ nhấn mạnh thật mau

    Từ ngữ lặp lại mà không chán gì

    Nói quá phóng đại tức thì

    Vừa tăng gợi cảm vừa tăng gợi hình

    Vẫn còn biện pháp chớ quên

    Nói giảm nói tránh đỡ gây đau buồn

    Lịch sự trong từng câu thơ

    Chơi chữ thì khác tiếng cười sâu cay

    Liệt kê hàng loạt thật hay

    Vừa làm phong phú vừa dễ dàng nhận ra

    Biện pháp tu từ quanh ta

    Nằm lòng các phép, thực hành chớ quên
     
  2. Đang tải...

Chia sẻ trang này