779
0
Đây là bài thơ được sáng tác và chia sẻ bởi thầy giáo Lương Hải Đăng, giáo viên khoa Ngữ Văn của trường Spring Hill - ngôi trường song ngữ liên cấp nằm cách Hà Nội 40km. Chia sẻ trên trang cá nhân của mình, thầy Hải Đăng viết: "Sau một thời gian ngâm cứu, với mong muốn giúp các con lớp 9 dễ dàng ghi nhớ các mốc thời gian, tên gọi, nội dung,...mình viết ra đôi dòng lục bát đơn sơ giản dị này. Thân tặng các học sinh của thầy, hy vọng món quà nhỏ này sẽ giúp các con có hứng thú hơn, dễ dàng khám phá chiều sâu rộng của văn chương."
Ngay sau khi đăng tải, đoạn thơ độc đáo này nhanh chóng nhận được sự chú ý từ đông đảo cư dân mạng, đa phần đều tỏ ra vô cùng thích thú và ngưỡng mộ trước sự tâm huyết của thầy giáo.
Bài "Làng" tác giả Kim Lân
Viết năm 48 (1948), gian truân chuyên bão bùng
"Đồng chí" những vị anh hùng
Chính Hữu - 48 (1948), sống cùng chúng ta
"Đoàn thuyền đánh cá" ra khơi
58 (1958) - Huy Cận, ngợi ca sức người
63 (1963) "Bếp lửa" sáng ngời
Bà của Bằng Việt, mặt trời trong tim
66 (1966) Quang Sáng đi tìm
Lược ngà báu vật, trái tim cha hiền
Xe không có kính triền miên
69 (1969) Tiến Duật tới miền lửa bom
Sa Pa lặng lẽ mọi chòm
Thành Long Nghệ sĩ chấm còm 70 (1970)
Những ngôi sao sáng giữa trời
Một chín bảy mốt (1971), tuyệt vời Minh Khuê
Viễn Phương 76 (1976) đi về
Thăm nơi bác "ở", bộn bề nhớ thương
77 (1977) Hữu Thỉnh vấn vương
Sang thu cảnh sắc muôn phương xoay vần
"Ánh trăng" soi tỏ nhân trần
Nguyễn Duy 78 (1978) muôn phần nghĩ suy
80 (1980) Thanh Hải sống vì
Cuộc đời một đóa tường vi dâng đời
Y Phương cảm xúc đầy vơi
"Nói với con" đó những lời thiết tha
Con là nguồn sống của cha
80 (1980) năm ấy, dễ mà đừng quên
Mở đầu đồng chí bài thơ
Vào năm bốn tám thơ lời tự do
Đoàn thuyền đánh cá khỏi lo
Một chín năm tám, con cò sáu hai
Đội xe sáu chín rất tài
Băng băng ra trận nào ai sợ gì
Khúc ru bảy mốt nhớ ghi
Ánh trăng bảy tám ta thì nhớ ngay
Mùa xuân nho nhỏ còn đây
Tám mươi năm chẵn sáng ngày mùa đông
Viếng lăng bác nhớ vô ngần
Bảy mươi sáu đó ân cần nhớ ôn
Sang thu cùng nói với con
Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền nam
Cuối cùng bếp lửa bùng tan
Cháy tình bà cháu nhớ ngàn sáu ba

Này là biện pháp tu từ
Nằm lòng các phép thực hành nhớ lâu
Chức năng, biểu hiện đừng quên
Lần lượt các bước thế là điểm cao
So sánh nằm ở từ như
Bằng hay hơn, kém đều để gợi ra
Sự vật, sự việc quanh ta
Không hề trừu tượng mà cụ thể thấy ngay
Nhân hóa ví vật như người
Sống động, gần gũi như là tình thân
Ẩn dụ hoán dụ rất gần
Cùng hàm súc đấy nhưng mà khác nhau
Ẩn dụ từ sự giống nhau
Dùng "như" khôi phục A, B biết liền
Hoán dụ thì khác đó nha
A gần B đó không hề giống nhau
Điệp ngữ nhấn mạnh thật mau
Từ ngữ lặp lại mà không chán gì
Nói quá phóng đại tức thì
Vừa tăng gợi cảm vừa tăng gợi hình
Vẫn còn biện pháp chớ quên
Nói giảm nói tránh đỡ gây đau buồn
Lịch sự trong từng câu thơ
Chơi chữ thì khác tiếng cười sâu cay
Liệt kê hàng loạt thật hay
Vừa làm phong phú vừa dễ dàng nhận ra
Biện pháp tu từ quanh ta
Nằm lòng các phép, thực hành chớ quên
Ngay sau khi đăng tải, đoạn thơ độc đáo này nhanh chóng nhận được sự chú ý từ đông đảo cư dân mạng, đa phần đều tỏ ra vô cùng thích thú và ngưỡng mộ trước sự tâm huyết của thầy giáo.
Bài "Làng" tác giả Kim Lân
Viết năm 48 (1948), gian truân chuyên bão bùng
"Đồng chí" những vị anh hùng
Chính Hữu - 48 (1948), sống cùng chúng ta
"Đoàn thuyền đánh cá" ra khơi
58 (1958) - Huy Cận, ngợi ca sức người
63 (1963) "Bếp lửa" sáng ngời
Bà của Bằng Việt, mặt trời trong tim
66 (1966) Quang Sáng đi tìm
Lược ngà báu vật, trái tim cha hiền
Xe không có kính triền miên
69 (1969) Tiến Duật tới miền lửa bom
Sa Pa lặng lẽ mọi chòm
Thành Long Nghệ sĩ chấm còm 70 (1970)
Những ngôi sao sáng giữa trời
Một chín bảy mốt (1971), tuyệt vời Minh Khuê
Viễn Phương 76 (1976) đi về
Thăm nơi bác "ở", bộn bề nhớ thương
77 (1977) Hữu Thỉnh vấn vương
Sang thu cảnh sắc muôn phương xoay vần
"Ánh trăng" soi tỏ nhân trần
Nguyễn Duy 78 (1978) muôn phần nghĩ suy
80 (1980) Thanh Hải sống vì
Cuộc đời một đóa tường vi dâng đời
Y Phương cảm xúc đầy vơi
"Nói với con" đó những lời thiết tha
Con là nguồn sống của cha
80 (1980) năm ấy, dễ mà đừng quên
Bài thơ về hoàn cảnh sáng tác văn 9
Mở đầu đồng chí bài thơ
Vào năm bốn tám thơ lời tự do
Đoàn thuyền đánh cá khỏi lo
Một chín năm tám, con cò sáu hai
Đội xe sáu chín rất tài
Băng băng ra trận nào ai sợ gì
Khúc ru bảy mốt nhớ ghi
Ánh trăng bảy tám ta thì nhớ ngay
Mùa xuân nho nhỏ còn đây
Tám mươi năm chẵn sáng ngày mùa đông
Viếng lăng bác nhớ vô ngần
Bảy mươi sáu đó ân cần nhớ ôn
Sang thu cùng nói với con
Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền nam
Cuối cùng bếp lửa bùng tan
Cháy tình bà cháu nhớ ngàn sáu ba
Bài ca tu từ

Này là biện pháp tu từ
Nằm lòng các phép thực hành nhớ lâu
Chức năng, biểu hiện đừng quên
Lần lượt các bước thế là điểm cao
So sánh nằm ở từ như
Bằng hay hơn, kém đều để gợi ra
Sự vật, sự việc quanh ta
Không hề trừu tượng mà cụ thể thấy ngay
Nhân hóa ví vật như người
Sống động, gần gũi như là tình thân
Ẩn dụ hoán dụ rất gần
Cùng hàm súc đấy nhưng mà khác nhau
Ẩn dụ từ sự giống nhau
Dùng "như" khôi phục A, B biết liền
Hoán dụ thì khác đó nha
A gần B đó không hề giống nhau
Điệp ngữ nhấn mạnh thật mau
Từ ngữ lặp lại mà không chán gì
Nói quá phóng đại tức thì
Vừa tăng gợi cảm vừa tăng gợi hình
Vẫn còn biện pháp chớ quên
Nói giảm nói tránh đỡ gây đau buồn
Lịch sự trong từng câu thơ
Chơi chữ thì khác tiếng cười sâu cay
Liệt kê hàng loạt thật hay
Vừa làm phong phú vừa dễ dàng nhận ra
Biện pháp tu từ quanh ta
Nằm lòng các phép, thực hành chớ quên



